Lựa
chọn cửa gỗ
Cửa là phần quan trọng của ngôi nhà. Vật liệu làm cửa có thể là sắt, nhôm,
nhựa... nhưng thông dụng nhất vẫn là gỗ bởi vẻ đẹp và sự sang trọng. Hiện nay,
cửa gỗ nói chung đã được chế tác bằng nhiều phương pháp với chủng loại đa dạng. Cửa gỗ tự
nhiên
Ưu điểm sản phẩm bằng gỗ tự nhiên là đẹp, có kết cấu
đồng chất, cứng cáp và tạo được nhiều kiểu dáng. Nguyên liệu gỗ tự nhiên có
nhiều loại và hầu hết được nhập từ các nước châu Á, Bắc Mỹ… Gỗ thường dùng làm
cửa là căm xe, giáng hương, cẩm lai, gõ đỏ, sồi, alder, cherry, mahogany,
pine...
Cửa gỗ có thể sử dụng cho cửa chính, phòng ngủ, cửa
sổ... cánh cửa mở rộng hoặc xếp lại tạo không gian mở hoặc khép. Cửa có thể mở
theo kiểu thông thường, có thể mở lật, nghiêng hay lùa. Về tạo dáng, trên mặt
cửa có thể là panô, ô vuông, có thể là đường vát xiên, hình tròn, đa giác… Hoặc
có phần kết hợp với lá sách, với kính trong, kính màu, kính thể hiện họa tiết
bằng keo, bằng ron chì (theo trường phái cổ điển). Hoặc cửa gỗ khắc chạm hoa
văn.
Với cửa chính thường làm panô gỗ, panô kính, lá sách
với kết cấu từ 2 đến 4 cánh. Cửa phòng trong thường dùng panô bằng gỗ. Cửa kết
hợp với kính, ngoài việc trang trí cho có tính hiện đại, kính có tác dụng lấy
được nguồn sáng tự nhiên. Với cửa gỗ, để cách điệu, người ta còn sử dụng eke to
bản có họa tiết, đóng lộ ra bên ngoài; vừa làm vững chãi thêm cho kết cấu cửa,
vừa như trang trí hoa văn cho mặt cửa. Mặt khác, chất liệu kim loại thích hợp và
đồng điệu khi gắn kết với gỗ.
Tuy nhiên, cửa gỗ cũng có những hạn chế nhất định như
nặng, làm tăng tải trọng cho nền móng công trình và giá khá cao. Gỗ sẽ không bền
lâu trong môi trường nước, ẩm ướt - gây hư mục và bị biến dạng, cong vênh hay co
nhót dưới tác động của nắng trời, nhất là đặt cửa ở những hướng có ánh nắng
chiếu trực tiếp. Do đó, ứng dụng những loại cửa này trong công trình thường làm
cửa phòng hoặc đặt ở những nơi không bị mưa nắng hắt, tạt trực tiếp. Nhưng, vẫn
có thể sử dụng làm cửa đi chính hay cửa sổ nhưng mặt cửa phải nằm lùi vào trong
ban công có mái đón, nằm trong khoảng sân đệm của không gian nhà. Phải xem xét
đến bản vẽ thiết kế để có thể chọn lựa cửa gỗ ứng dụng tương thích và phù hợp
theo những tiêu chí nêu trên.
Hiện nay, quá trình sản xuất đồ gỗ đều được tẩm hóa
chất chống mối mọt và sấy khô để hạn chế co nhót, cong vênh, nhưng vẫn phải tính
đến độ bền vững của vật liệu theo thời gian trước tác động của khí hậu nhiệt đới
khắc nghiệt như ở Việt Nam.
Theo một số chuyên gia trong việc làm đồ gỗ, độ dày
mỏng của gỗ đóng vai trò quan trọng trong kết cấu bền vững của cửa. Gỗ càng dày
cửa càng tốt, giảm thiểu bị cong vênh, giãn nở và tất nhiên giá cao hơn. Để nhận
diện được việc này, có thể xem bề dày gáy cánh cửa, hoặc gõ trên mặt ván để
“nghe” độ dày mỏng của vật liệu. Hàng không cao cấp có những loại tấm gỗ panô
cửa dày chỉ 7-8 mm, rất dễ bị xé. Thậm chí, chỉ mỏng 3-5 mm và được “dán” lên
tấm ván ép hay ván gỗ tạp cho “có vẻ” dày dạn nhưng dạng này mau hỏng.
Một yếu tố nữa cũng thường gặp là nguyên liệu gỗ làm
cửa còn dính giác (phần gỗ màu trắng sát vỏ cây, khác với phần lõi của cây gỗ).
Giác gỗ là phần mau bị mục rã nhất. Nhưng khi đóng xong cửa, phần giác này được
“mông má” lại bằng bả màu và véc ni vẽ, đánh lên cho hợp với vân và màu của gỗ
phần lõi. Thoáng nhìn, khó nhận ra nhưng quan sát kỹ có thể phát hiện vì sẽ lộ
cái nét thiếu tự nhiên của sắc diện gỗ.
Cửa gỗ nhân tạo -
HDF
Do nguyên liệu gỗ được ưa chuộng nhưng mắc và khan
nên các nhà sản xuất đã tạo ra một chất liệu mới - HDF (high density fiber). HDF
chuyên dụng làm cửa là một loại bột gỗ đã qua xử lý và nén, ép với keo đặc biệt
dưới áp lực cao để tạo thành tấm. Đặc biệt, bề mặt ván HDF tạo được thớ và vân
gần như gỗ thật. Ván nguyên thủy màu vàng như giấy carton và trong quá trình làm
cửa, khâu sau cùng sơn màu lên tùy thích. Điều này cũng là lợi thế trong trang
trí nội thất - chọn được màu cửa tương hợp với không gian nội thất, hoặc có thể
thay đổi tông sắc sau một thời gian sử dụng. Khung xương bên trong cánh cửa làm
bằng gỗ cứng hay gỗ thông được cắt ngắn (khoảng 34-50 mm) ghép lại và qua tẩm
sấy theo đúng chuẩn (độ ẩm chỉ 7-12%) để hạn chế tối đa sự co nhót, biến dạng
của vật liệu. Ngoài khung xương áp hai tấm HDF.
Từ đó, ưu điểm loại cửa gỗ này là không bị cong vênh,
không bị hiện tượng hở các mối ghép dưới tác động thời tiết và có khả năng chống
mối mọt do là gỗ công nghiệp. Bên trong cửa có nhiều khoảng trống nên có phần
cách âm, cách nhiệt. Cánh cửa nhẹ, tránh được tình trạng xệ bản lề và giảm tải
trọng công trình. Do tấm HDF nhân tạo nên bề mặt có thể “dập” theo khuôn với
nhiều kiểu panô và họa tiết trên cửa - trông như chế tác cửa bằng gỗ thật. Đặc
điểm nữa là giá thành thấp, chỉ vào khoảng 70% so với cửa gỗ tự nhiên.
Nhưng cửa HDF vẫn có những hạn chế nhất định. Vì là
gỗ nhân tạo nên không bền ở môi trường nước hay ẩm độ cao. Chẳng hạn, không
thích hợp ứng dụng cửa sổ, cửa đặt tiếp xúc trực diện với môi trường tự
nhiên.
Cửa chống cháy và cửa HDF
dán veneer
Cùng kết cấu như trên, nhưng trước khi áp hai tấm HDF
vào cánh cửa, những khoảng rỗng được chèn bằng sợi khoáng và kẹp lại bằng hai
tấm calcium silicate dày 6-9 mm. Tấm chống cháy chủ yếu này gồm xi măng, sợi
silicate mịn, sợi cenlulose có khả năng ngăn nhiệt từ lửa và giữ tính nguyên vẹn
cho cửa trong thời gian khoảng 60-120 phút.
Một sản phẩm mới khác sẽ có trên thị trường vào thời
gian tới là cấu trúc dạng cửa gỗ HDF chống cháy này nhưng bề mặt tấm HDF được
dán lên lớp veneer, lớp gỗ tự nhiên lạng mỏng như xoan đào, sồi, cherry, ash,
sapelli… Dù bề mặt tấm HDF đã được chế tác gần giống vân gỗ thật nhưng để đúng
là gỗ thật, nhà sản xuất đã dùng veneer dán lên. Công nghệ dán này trải qua
những công đoạn mới veneer dán và ép nóng lên một tấm lưới mảnh nhưng dai. Nhờ
tấm lưới này, khi dập mặt cửa theo khuôn panô, theo các “nhịp” lồi lõm của hoa
văn thì bề mặt gỗ veneer - các góc cạnh không bị hỏng, bong tróc. Đây là lợi thế
của dạng cửa này - tức dán veneer gỗ lạng mỏng mà vẫn tạo được chi tiết, họa
tiết trên mặt cửa.
Cửa gỗ ghép dán
veneer
Bằng nguyên liệu gỗ tự nhiên nhưng để giá thành hạ
nhà sản xuất đã “chế biến” ra loại cửa bằng gỗ ghép, mặt ngoài dán veneer. Từ
đó, sắc thái cánh cửa là gỗ thật và có những đặc tính riêng. Giá thành cửa ghép
dán veneer thấp hơn so với cửa bằng gỗ tự nhiên “nguyên xi” là 30%.
Giá thấp nhờ sử dụng gỗ vụn, gỗ miếng nhỏ, gỗ tận
thu, gỗ trồng trong tự nhiên... qua các khâu tẩm sấy để ổn định chất, thớ gỗ.
Sau đó ghép nóng lại bằng keo đặc biệt để thành cây gỗ và ván làm cửa. Đặc tính
cửa dạng này là gỗ đã qua xử lý và được ghép từ những miếng nhỏ nên hạn chế cao
sự co rút hay giãn nở của gỗ; cửa không bị cong vênh và bề mặt cửa là chất liệu
gỗ thật; chế tác được nhiều kiểu dáng vì nó đã thành gỗ phách, gỗ ván. Tuy nhiên
vẫn có những hạn chế như nặng bởi “căn nguyên” nó là gỗ tự nhiên. Do chất là gỗ
tự nhiên nên xử lý bề mặt bằng PU hay UV để giữ nguyên được sắc diện của gỗ,
cũng như nó là lớp bảo vệ mặt gỗ - không cần phải bả màu hay véc ni sơn phết
bằng chất nào khác vì sẽ làm mất vẻ trung thực của gỗ.
Cửa ghép ngoại
nhập
Cửa có khung hai lớp với nhiều chủng loại, thường của
Mỹ. Khung bên trong của loại này là gỗ, bên ngoài có thể là nhôm hay nhựa, hoặc
ngược lại, hoặc toàn bằng gỗ… Gỗ đã qua xử lý để ổn định chất lượng với hàng
chục loại vân và sắc độ. Khung nhôm được đúc nguyên khối, chống lõm, gợn sóng và
chống ồn... Khung nhựa cũng đùn ép dưới áp lực cao và tạo nhiều ngăn để chống bị
thẩm thấu bởi nước, không khí, có cấu trúc cứng hơn và giảm thiểu sự trương nở,
co rút theo thời tiết.
Phần kính ứng dụng trên cánh với tác dụng lấy sáng và
có khả năng cản nhiệt lượng truyền vào nhà. Kính hai lớp, ở giữa là khoảng trống
được bơm khí trơ vào để giảm sự truyền tải nhiệt. Các góc cạnh xử lý bằng
silicon bít kín, tăng cường độ chịu lực và ngăn sự thẩm thấu từ môi trường tự
nhiên. Ngay trên một mặt kính cũng dán hai lớp với màng keo đặc biệt để kính
không bị vỡ vụn, rơi ra khi có sự cố.
(Theo SGTT) |